NGƯỜI GIEO MẦM XANH
Chào mừng quý vị đến với website của ...
Quý vị chưa đăng nhập hoặc chưa đăng ký làm thành viên, vì vậy chưa thể tải được các tài liệu của Thư viện về máy tính của mình.
Nếu chưa đăng ký, hãy nhấn vào chữ ĐK thành viên ở phía bên trái, hoặc xem phim hướng dẫn tại đây
Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay phía bên trái.
Nếu chưa đăng ký, hãy nhấn vào chữ ĐK thành viên ở phía bên trái, hoặc xem phim hướng dẫn tại đây
Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay phía bên trái.
1001 bí ẩn chưa giải

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Nguyễn Thị Hoa
Ngày gửi: 16h:36' 30-08-2024
Dung lượng: 1.3 MB
Số lượt tải: 3
Nguồn:
Người gửi: Nguyễn Thị Hoa
Ngày gửi: 16h:36' 30-08-2024
Dung lượng: 1.3 MB
Số lượt tải: 3
Số lượt thích:
0 người
1001 bí ẩn
Cuốn sách là tập hợp các bài viết được đăng tải ở trang Khoahoc.com.vn về
những vấn đề bí ẩn của thế giới cũng như ở Việt Nam, thu hút được sự chú ý, quan
tâm của các nhà khoa học cũng như những người thích tìm hiểu khám phá....
Source: Khoahoc.com.vn
Created by tinhvan - SachMoi.net
Contact: tinhvan01@gmail.com
Website: www.SachMoi.net
10 nhân vật ma quái đáng sợ nhất
Chúng lẩn khuất, ám ảnh, làm chúng ta kinh hãi. Nhưng những nhân vật kinh dị
nhất dưới đây chắc chắn sẽ không thình lình xuất hiện trước mắt bạn. Chúng đã bị
chôn vùi trong những thị trấn thời trung cổ, khi mà các câu chuyện dân gian kỳ bí ngự
trị trong đầu mỗi người.
Sau đây là lịch sử và khoa học về những ngôi sao kinh dị của ngày 31/10 - Lễ hội
Halloween hằng năm.
1. Yêu tinh
Nổi tiếng từ các câu chuyện cổ tích, những con yêu tinh nhỏ choắt đầy lông lá có
tính ranh ma nhiều hơn là độc ác. Truyền thuyết kể về những con yêu tinh trốn trong
các khu rừng, bày ra các trò chơi khăm và đôi khi tráo đổi em bé mới sinh. Không
giống như các sinh vật khác vốn liên quan đến tôn giáo, yêu tinh chưa vượt qua được
ngưỡng của sự tưởng tượng để gây nên những cơn hoảng loạn thực sự ở các thị trấn
thời trung cổ.
2. Quỷ
Quỷ, như người ta vẫn thường gọi "linh hồn của quỷ", có thể đại diện cho bất kỳ
thứ nào từ tà ma, đến một thiên thần bị suy đồi tới đệ tử của Satan. Ma quỷ có nguồn
gốc từ thời cổ đại và xuất hiện trong các câu chuyện dân gian và văn học trên khắp thế
giới.
3. Tượng đầu thú
Đó cũng là một trong những điều không thể giải thích được của kiến trúc cổ đại.
Nhưng tượng đầu thú, những con quái vật bằng đá nhô ra từ mỏm của các giáo đường
lớn, thực ra có chức năng của nó. Chúng được gắn vào các công trình đá gô-tíc vào
đầu thế kỷ 13 để dẫn nước mưa chảy từ trên nóc nhà thờ, miệng của chúng như cái
máng xả nước. Xét về mặt tâm linh, tượng đầu thú cũng để bảo vệ giáo đoàn trước các
thế lực ma quỷ rình rập bên ngoài.
4. Thây ma
Là vua của phim kinh dị, thây ma là những con người đã bị tước mất linh hồn hay
người chết được sống lại nhờ một phép ma thuật nào đó. Truyền thuyết thây ma bắt
nguồn từ tôn giáo ma thuật ở Haiti, nơi mà người ta tin rằng con người cơ thể rơi vào
trạng thái hôn mê giống như xác chết di động mà chúng ta thấy trong phim.
5. Ma sói
Là những con người bình thường cho đến khi ngày trăng tròn tới, họ bị nguyền rủa
biến thành những con sói man rợ - hình tượng xuất hiện trong mọi nền văn hoá bắt
nguồn từ thời Hy Lạp cổ đại. Giống như phù thuỷ, họ bị săn đuổi vào thời trung cổ và
bị buộc tội trong những vụ giết người không thể giải thích. Những câu chuyện truyền
miệng cũng nói đến một chứng rối loạn hoóc môn khiến lông mọc rậm rạp trên cơ thể
- được gọi là "căn bệnh người sói".
6. Ma trơi
Những quả bí ngô ma quái này có thể là biểu tượng nổi bật nhất của lễ hội
Halloween. Tục lệ khắc và thắp đèn trong những quả bí là một phong tục thời Celtic
được các cư dân Ireland mang tới Mỹ. Ở Ireland, người ta dùng củ cải thay vì bí ngô.
Những khuôn mặt đáng sợ tỏa sáng hiện ra từ những quả bí ngô là để xua đuổi tà ma
lang thang trên các con đường vào đêm 31/10 - đêm các thánh.
7. Dơi
Chúng mù, treo lơ lửng trong các hang động và tạo nên những cuộc tấn công ồ ạt.
Nhưng tại sao dơi lại liên quan tới Halloween? Những con thú có cánh này nên cảm
ơn ma cà rồng vì điều đó. Giống như các con quỷ dracula, một bộ phận nhỏ dơi
chuyên sống nhờ vào máu động vật - dùng răng sắc nhọn để cắn nạn nhân khi đang
ngủ.
8. Phù thuỷ
Hãy quên đi những chiếc mũ đen nhọn hoắt hay cái mũi khoằm. Những hình ảnh
đó chỉ xuất hiện gần đây so với lịch sử bi thương có từ rất lâu về phù thủy trên khắp
hành tinh. Trong quá khứ, phù thuỷ được coi là người sở hữu những phép thuật liên
quan tới thế giới tự nhiên. Giống như mọi kẻ ngoại giáo khác, họ bị truy lùng bởi nhà
thờ Cơ đốc. Cuộc săn lùng lên tới đỉnh điểm vào thời trung cổ ở châu Âu và thế kỷ 17
ở châu Mỹ.
9. Bóng ma
Chọc 2 lỗ thủng từ tấm ga trải giường để nhìn và bạn đã có trang phục đơn giản
nhất cho ngày Halloween. Trở thành một con ma thực thụ thì phức tạp hơn. Trước hết
bạn phải chết, có thể một cách đau đớn, rồi để cho linh hồn của bạn lang thang khắp
trái đất hù doạ người thân và ám ảnh các ngôi nhà. Từ một góc độ khoa học nào đó,
các nhà cận tâm lý cho rằng một phần năng lượng của con người không bao giờ bị
phá huỷ. Xã hội dường như cũng đồng ý, một cuộc khảo sát cho thấy 50% tin rằng
thực sự có ma.
10. Ma cà rồng
Họ muốn hút máu bạn. Ma cà rồng xuất hiện trong nền văn hóa dân gian từ hàng
nghìn năm trước, còn hình ảnh về những chiếc răng nanh phổ biến từ thế kỷ 18-19 tại
Tây Âu. Người ta tin rằng một ai đó khi sinh ra bị dị dạng hoặc chết một cách bất
thường thì sau khi chôn sẽ sống dậy để khủng bố người sống. Ma cà rồng được coi là
những người chưa chết hẳn và cần phải hút máu người để duy trì sự sống.
M.C.R.
Theo Livescience, Vnexpress
3 bí ẩn của địa cầu
Ai cũng biết không gian có thể tác động đến con người. Mặt trời gây nên
nhiều vấn đề nơi một số người nhạy cảm trước những đổi thay thời tiết. Bên
cạnh việc gây nên biến động thủy triều, mặt trăng còn là nguyên nhân của hiện
tượng mộng du (bước đi trong khi ngủ).
Dường như ai cũng nghe nói địa cầu chúng ta có thể là nơi “đổ bộ” của thiên thạch
vào một ngày vô định nào đó trong tương lai? Bản thân trái đất có thể tác động đến
cuộc sống con người như sau:
1. Bức xạ tần số thấp phát ra từ ruột trái đất tác động bất lợi cho nội tạng con người.
2. Nhà cao tầng xây dựng trên vùng dẫn lưu có thể bị rung chuyển và sụp đổ vì lý
do không ai biết.
3. Theo một trong nhiều lý thuyết, khủng long diệt vong do hai cực từ của địa cầu di
chuyển.
Đội ngũ chuyên gia của Viện hàm lâm Khoa học Nga phát hiện sự liên kết kỳ lạ
giữa số vụ tai nạn với rối loạn trường điện từ của trái đất, và bức xạ tần số thấp
trong ruột địa cầu chính là thủ phạm đáng ghét. Một trong nhiều giả thuyết cho
rằng hiện tượng sinh ra do các tiến trình lực căng ứng suất trong lớp vỏ trái đất. Và, có
thể một phần năng lượng này sau đó biến thành luồng phân tử điện từ vỡ tự do, giống
như đám quỷ dữ thoát ra từ chiếc hộp Pandora. Khoa học tin rằng bức xạ bí ẩn tác
động xấu đến sức khỏe con người. Ví dụ, thống kê cho thấy phần lớn những người gọi
xe cứu thương và tai nạn giao thông bột phát khi có một sự gia tăng loại bức xạ này.
Khoa học ghi nhận nhiều lỗ thủng khổng lồ đang xuất hiện trong từ trường trái
đất. Đến một mức độ nào đó thì những lỗ thủng này sẽ gây nên vấn đề. Khoa học cho
rằng lúc đó hai cực từ của trái đất sẽ hoán đổi vị trí, vì hiện tượng này từng xảy ra
trong lịch sử địa chất hành tinh.
Hiện thời, cực từ Bắc đang di chuyển và tiến gần đến Siberia. Cực từ Nam
cũng thế, nó rời Nam Cực và hiện tiến dần đến các vùng bờ biển miền Tây Australia.
Chuyển động của hai cực từ được dò thấy ở Trung tâm Quân sự và Viện Kỹ thuật
Ground Forces. Theo một số dữ liệu, hiện tượng thay đổi vị trí của hai cực từ xảy ra
một lần trong giai đoạn 12.500, và có thể nó đã giết chết loài khủng long, voi
mammouth, và gây nên sự huỷ điệt Atlantis
Di An
Theo LiveScience, CAND.com.vn
Ai Cập - Huyền bí pho tượng nhân sư
Tượng Sphinx nằm ở sa mạc Ai Cập cách thủ đô Cairo khoảng 8 dặm, được
người xưa dùng để canh gác ba kim tự tháp lớn ở Gizah. Đó là một quái vật tạc
bằng đá, đầu người mình sư tử với những chân có vuốt trải ra phía trước.
Hình tượng chạm trổ sơ sài nhưng đầu lại được tạc một cách rất công phu. Đôi mắt
đầy vẻ bí hiểm và có cái nhìn không ai có thể giải thích nổi. Mắt con Sphinx nhìn
chằm chằm ra phía sa mạc với cái vẻ kênh kiệu khó hiểu. Tượng cao hơn 18 mét và
trải dài tới 57 mét, mặt có bề ngang 5 mét, tại 1,57 mét, mũi 1,7mét.
Người ta cho rằng tượng Sphinx đã tồn tại ít nhất 5.000 năm nay! Tại sao lại thiết
kế tượng này? Một bằng chứng mà ta có được xuất phát từ việc tìm thấy một am thờ
nằm giữa những cái chân của quái vật này. Am thờ nhỏ này có bút tích của hai vị
hoàng đế cổ Ai Cập. Hai vị giải thích rằng tượng Sphinx biểu thị một trong những
hình dạng của thần Mặt trời Harmachis. Và hai vị còn nói rằng mục đích làm tượng
Sphinx là để xua đuổi tất cả những điều bạo ác, tội lỗi khỏi khu nghĩa địa quanh kim
tự tháp.
Ở Ai Cập có nhiều tượng Sphinx, ngoài tượng Sphinx lớn ở Gizah. Đầu tượng biểu
thị các vị hoàng đế. Trong các sách thánh của người Ai Cập, Sphinx có nghĩa là “vua
chúa”.
Đối với các tôn giáo nguyên thủy ở Ai Cập cũng như ở các nơi khác, nhà vua được
coi là sức mạnh và sự khôn ngoan của nhiều con thú bằng cách khoác cái lốt của
chúng. Vì vậy người Ai Cập đã chạm các vị thần và các vị hoàng đế của họ nửa người,
nửa thú.
Quan niệm về Sphinx đã từ Ai Cập truyền tới các nền văn minh khác, chẳng hạn
như Assyria và Hy Lạp. Ở các vùng này, Sphinx thường có thêm cánh. Ở Assyria
Sphinx thường là đàn ông, nhưng ở Hy Lạp Sphinx lại có đầu đàn bà.
Người Hy Lạp có một câu chuyện truyền thuyết về Sphinx như sau: Sphinx sống
trên một tảng đá và giết bất cứ người nào đi qua mà không trả lời được câu đố sau
đây: “Cái gì đã đi bằng bốn chân vào buổi sáng, đi bằng hai chân vào buổi trưa, đi
bằng ba chân vào ban đêm?”. Ocdipus trả lời rằng đó là con người, bò bằng cả bốn
chân tay khi là đứa trẻ, đi thẳng người trên hai chân khi là người lớn và đi với cây gậy
khi đã già.
Đó là câu trả lời đúng, do đó con Sphinx điên tiết lên đã lao từ trên tảng đá xuống
và chết. có nguồn khác thì cho rằng: do Sphinx là học trò của nữ thần thông thái ! nữ
thần từng phán rằng, nếu ai giải được câu đó của Sphinx thì Sphinx sẽ phải chết!
Theo VietNet
Ai chế tạo ra đầu người thủy tinh?
Năm 1927, hai cha con nhà khảo cổ học người Anh là Mixin Haiđơ Jidơ và
Anna, tại khu phế tích thành cổ Lôba Antômô nơi gần thành phố Hatơri nước Anh đã
tiến hành khảo sát và tìm thấy một đầu người thủy tinh nặng khoảng 5kg. Đó là một
khố thủy tinh phỏng theo xương đầu người chế tác ra. Xương mũi được lắp ghép bởi
ba mành thủy tinh, hố mắt là một viên thủy tinh tròn, răng được gắn ngay ngắn vào
xương hàm.
Cuốn sách "Nguy hiểm lắm, con đường của tôi" xuất bản năm 1954 đã nhận định
rằng, xương đầu người bằng thủy tinh này do người cổ chế tạo ra cách đây hơn 3.600
năm: Theo giám định của các nhà khảo cổ học, chiếc sọ người thủy tinh này phải
tốn thời gian 150 năm mới được chế tác xong. Sau khi đục khắc xong còn được
dùng cát để đánh bóng. Trước khi được khai quật, nó đã được chôn dưới đất chí
ít cũng đã 3.600 năm.
Một số nhà khảo cổ khác không đồng ý với cách suy luận đó. Họ cho rằng, những
người cổ đại sống cách đây 3.600 năm bị hạn chế bởi điều kiện khoa học kỹ thuật lúc
bấy giờ ở trình độ rất thấp, không thể chế tạo được sọ người thủy tinh tinh xảo đến
thế.
Viện bảo tàng nhân loại học của Pháp cũng lưu giữ một sọ người thủy tinh.
Theo khảo chứng của một số nhà khoa học Pháp: Chiếc sọ người thủy tinh đó qua
giám định khoa học, được xác định là do người Aztech, tức người Anhđiêng - Mexico
chế tạo ra vào thế kỷ 14 hoặc thế kỷ 15. Phân tích từ góc độ lịch sử và tôn giáo, nó có
thể là vật trang sức của mục sư Aztech, của người Anhđiêng cúng tế. Gần quanh nơi
tìm thấy sọ người thủy tinh, người ta cũng tìm thấy rất nhiều công cụ đồ đồng cỡ nhhỏ
nhưng rất tinh xảo. Xem ra, sọ người thủy tinh rất có khả năng do người Aztech dùng
công cụ bằng đồng để chế tạo nên.
Một số học giả tán thành quan điểm trên, họ cho rằng thế kỷ 14 và 15, người
Aztech đã có trình độ phát triển khá cao, họ đã chế tạo được đồ gốm với đặc trưng
màu nâu vân đen, tạo hình mỹ quan, đường vân đa dạng, phức tạp, từ những bản vẽ
hình học phát triển tới việc tả thực hoa lá, chim cá, côn trùng, họ còn biết sử dụng
đồng thiên nhiên để rèn thành công cụ, dùng lông chim cắm vào để tạo ra vật trang
sức. Năm 1978, trong khai quật khảo cổ, Mexico lại phát hiện một tảng đá điêu khắc
nặng khoảng 10 tấn, đường kính 11 thước Anh được gọi là "Đá Mặt Trăng". Đó là
tảng đá được người Aztech chế tác vào năm 1470. Từ những bằng chứng trên, có thể
chứng minh rằng, trình độ khoa học kỹ thuật của người Aztech tinh chắc rằng linh
hồn sống mãi, và họ theo tín ngưỡng đa thần (Thần Mặt Trời, thần Mặt Trăng, Thần
Mưa,...). Khi tế thần họ dùng người sống để làm vật hiến tế. Sọ người thủy tinh này
có thể là một trong những vật phẩm được họ dùng để tiến hành những hoạt
động tế thần.
Nhưng một số học giả tỏ ra hoài nghi, thậm chí phủ định quan điểm trên. Họ cho
rằng, vào thế kỷ 14 và 15, công cụ sản xuất và vũ khí của người Aztech thường vẫn là
đồ đá và đồ gỗ. Lúc bấy giờ họ đang ở giai đoạn liên minh bộ lạc, đang trong thời kỳ
từ xã hội nguyên thủy quá độ tiến lên buổi đầu của chế độ nô lệ, còn thiếu hẳn kỹ
nghệ điêu khắc ở trình dộ cao, rất khó có thể chạm khắc được sọ người thủy tinh sinh
động như vậy.
Viện bảo tàng Anh quốc cũng lưu giữ một sọ người thủy tinh. Trong đêm tối
không có ánh đèn, chiếc sọ vẫn phát ra ánh sáng trắng lóa mắt, hiển hiện một vẻ
khủng khiếp giống hình một ác quỷ nhe răng trợn mắt. Chiếc sọ thủy tinh này được
mua lại tại hiệu châu báu Tiphanni ở NewYork năm 1898. Theo lời người chủ hiệu thì
nó được một người lính bán cho chủ hiệu vào cuối thế kỷ 18. Một số nhà khảo cổ cho
rằng, đó là tác phẩm của người Adôđê (châu Mỹ La-tinh), chế tác từ thời thực dân.
Nhưng đó cũng chỉ là một giả thuyết, chứ chưa phải là kết luận nhất trí của giới khảo
cổ học.
Cho đến nay cả 3 chiếc sọ người thủy tinh trên đều chưa rõ lai lịch, không biết
người nào chế tác ra chúng vào thời gian nào, có mục đích và ý nghĩa gì? Đến nay thế
giới đang chờ các nhà khảo cổ học nghiên cứu tìm ra câu trả lời thỏa đáng.
H.T sưu tầm
Ai dạy người Maya cách tính lịch?
Người Maya sáng tạo được một nền toán học phát triển vượt bậc, để có thể ghi
chép các sự kiện theo năm tháng nhằm quyết định thời gian gieo trồng và thu hoạch,
tính toán một cách chính xác thời tiết và những ngày mưa nhiều nhất trong năm. Kỹ
thuật toán học của họ trong các dân tộc thời cổ đại nguyên thủy khiến các nhà khảo
cổ không khỏi kinh ngạc, nhất là việc họ rất thành thạo khái niệm về số "0". So với
các nhà buôn Ả Rập vượt sa mạc đưa khái niệm số "0" truyền từ Ấn Độ sang châu Âu
thì người Maya sớm hơn 1000 năm.
Người Maya tính ra mỗi tháng có 20 ngày, mỗi năm có 18 tháng cộng thêm
mỗi năm có 5 ngày kiêng kỵ không đưa vào tháng nào. Nhờ vậy số ngày thực
chất trong một năm là 365 ngày. Số đó vừa vặn trùng hợp với nhận thức quay về
thời gian Trái đất tự quay và quay quanh Mặt trời hết một chu trình. Người Maya
ngoài sự hiểu biết về lịch Trái đất chuẩn xác, họ còn rất am hiểu về lịch năm của
sao Kim. Một năm của sao Kim, tức là thời gian để sao Kim quay quanh Mặt trời hết
một chu trình, người Maya tính ra một năm sao Kim dài 584 ngày. Còn ngày nay tính
ra một năm sao Kim dài 583,92 ngày. Đó là một con số chuẩn xác đến kinh ngạc mà
người Maya đã có phương pháp tính lịch từ mấy ngàn năm trước.
Trong thực tiễn xã hội và sản xuất, phần đông các dân tộc căn cứ vào con số ngón
tay để sáng tạo ra phép đếm cơ số 10. Còn người Maya lại căn cứ vào số ngón tay và
ngón chân cộng lại để sáng tạo ra phép đếm cơ số 20. Ngoài ra họ còn sử dụng thêm
cả phép đếm cơ số 18, phép đếm này gợi ý về cái gì? Lấy cái gì làm căn cứ? Người
Maya còn là dân tộc đầu tiên trên thế giới nắm vững khái niệm cơ số "0", nhận thức và
vận dụng số "0" trong toán học đánh dấu trình độ nhận thức của một dân tộc. Về vấn
đề này, người Maya so với người Trung Quốc và người châu Âu đã sớm hơn được
3800 năm và 1000 năm.
Kim tự tháp mà người Maya căn cứ vào lịch pháp của mình để xây dựng
nên, thực chất là một đàn cúng tế thần linh kiêm đài quan trắc thiên văn.
Đài thiên văn ở Chichén Itzá là đài thiên văn số Một do người Maya xây dựng nên
cũng là đài thiên văn cổ nhất. Đỉnh chóp của đài thiên văn này cao trội hẳn lên trên
các ngọn cây trong rừng rậm, bên trong có một cầu thang tròn lên tận đỉnh chóp của
đài quan sát. Trong đỉnh chóp có các cửa sổ để quan trắc các tinh tú. Bên ngoài vách
đá của tháp có trang trí hình khắc thần mưa, còn có cả hình khắc phù điêu hình người
vươn cánh tay bay vào Vũ trụ. Tất cả cái đó làm các nhà khảo hổ học và khoa học có
nhiều suy nghĩ và giả thiết.
Cửa sổ đài thiên văn Chichén Itzá của họ không phải hướng về những vì sao
sáng nhất mà họ hướng về nơi màn đêm trầm lặng bên ngoài dải Ngân Hà. Còn
lịch pháp của họ thì có thể duy trì được đến 400 triệu năm sau, nó được dùng để làm
gì? Ngoài ra họ tiếp thu từ đâu mà tính ra được năm Mặt trời và năm sao Kim với độ
chính xác chỉ sai ở những con số sau dấu phảy?
Rất hiển nhiên, tất cả những kiến thức đó đã vượt ra ngoài nhu cầu thực tế của
người Maya đang sống trong thời kỳ xã hội nông nghiệp và khiến cho các nhà khảo cổ
chưa thể giải thích được.
Đã nằm ngoài nhu cầu của họ thì chứng tỏ những kiến thức đó không phải do
người Maya sáng tạo ra. Vậy ai đã truyền cho người Maya những kiến thức đó? Trong
thời đại mà tất cả mọi dân tộc trên Trái đất đều đang sống trong mông muội, ai đã
nắm được những kiến thức tiên tiến như vậy?
H.T sưu tầm
Angkor, ngôi nhà của thần linh
Xây dựng từ thế kỷ thứ 9 và đạt cực thịnh dưới triều vua Suryavarman II
(1113 - 1150) vào nửa đầu thế kỷ 12. Đột nhiên mất tích trong bóng tối rừng già
Đông Dương hơn 5 thế kỷ, đồng nghĩa với sự lãng quên của con người cho đến
khi được tìm ra bởi những nhà thám hiểm người Pháp vào thế kỷ 19.
Nhưng liệu một nền kiến trúc kỳ vĩ, huy hoàng đến thế có thật bị lãng quên?
Không! Người Khmer của nhiều thế kỷ sau vẫn biết có một kỳ quan di sản của dân
tộc mình được rừng già vĩnh cửu giấu kín. Rừng già và bóng tối nhận lãnh sứ mạng
che giấu chứ không phải Angkor bị mất tích. Đây là một luận điểm của Michael
Freeman, một nhà nghiên cứu người Mỹ.
Angkor giờ đây đã phơi mình giữa ánh sáng của nền văn minh thế kỷ 21. Nó vẫn
im lặng ra câu đố với nhân loại: Đá núi lấy từ đâu? Vận chuyển, xây dựng thế nào
khi chưa có nền công nghệ hiện đại như hôm nay, tại sao nó vẫn sừng sững có
mặt, vĩ đại và bí ẩn hệt như những nụ cười kỳ lạ trên những gương mặt Bayon...
Nhưng trong phạm vi nhỏ hẹp và tầm thường của người viết bài này, Angkor sẽ
chỉ được ghi nhận bằng cảm quan du khách. Cái cảm quan một lần chiêm ngưỡng và
chạm tay vào những phiến đá đã nghìn năm tuổi. Còn thấy những nụ cười, gương mặt
băng qua bóng tối thời gian, nó đủ khơi gợi trí tưởng tượng về sự sống và cái chết, về
khoảnh khắc vĩnh cửu...
Dưới bóng cây thần thánh
Khi được tìm ra sau năm thế kỷ, những cây cổ thụ nghìn tuổi đã toả những chiếc rễ
khổng lồ chụp xuống những mái đền đá tảng từ lâu, sức mạnh mềm mại mà kinh
hoàng của nó chẻ tường đá thành khe nứt, làm xiêu vẹo cả đền đài tưởng chừng thời
gian chỉ có thể bào mòn mà thôi. Những cây cổ thụ, những chiếc rễ kỳ dị ấy đã nổi
tiếng khắp thế giới ngay từ những bức ảnh chụp đầu tiên được công bố. Trong ánh
nắng chiều xiên khoai, những chiếc rễ toả sáng như có hào quang, lấp lánh ánh bạc
kim nhũ – một vẻ đẹp làm kinh ngạc du khách - Những “cổ thụ thần thánh” sáng lên
trong vẻ thâm u hoang tàn của đền đài Ta Phrom ở quần thể Angkor. Một trong những
ấn tượng kỳ bí và hùng vĩ biểu tượng sức mạnh thiên nhiên với mọi du khách khi
chiêm ngưỡng.
Nụ cười trong bóng tối
Khó có thể đếm được bao nhiêu phù điêu chạm khắc hình tượng Apsara ở toàn bộ
Angkor. Nghệ thuật điêu khắc ở đây đã đạt đến đỉnh điểm. Những nụ cười Bayon
cũng đã nổi tiếng khắp thế giới. Những nét mũi, đường môi uốn mềm mại trên đá
tảng. Nụ cười viên mãn hay hoan lạc, bí ẩn, khó hiểu như một thách đố tâm linh của
thần thánh đối với con người. Trong đám rễ cây đã có nghìn năm tuổi, từng chôn vùi,
trói chặt, giam giữ những tượng đá đứng đấy cũng đã nghìn năm, thỉnh thoảng lộ ra
một gương mặt, một nụ cười sống động đến rợn người. Nụ cười ấy thách thức bóng tối
nhiều thế kỷ cho đến ngày lộ ra ánh sáng như hôm nay – trong những bức ảnh hiếm
thấy của nhà nhiếp ảnh Trần Việt Đức – anh vừa tìm ra trong chuyến đi này...
Vẻ đẹp hoang tàn...
Quần thể Angkor đang được Unesco trùng tu. Thiên nhiên, sự quên lãng đã tàn phá
nó khá nặng nề. Nhưng trước những mái đền đã sụp đổ, những đống đá chồng chất
phủ rêu xanh, người chiêm ngưỡng không khỏi ngậm ngùi... Bao nhiêu triều đại huy
hoàng, bao nhiêu bước chân vua chúa, mỹ nữ từng đi qua đây... Nay chỉ còn chơ vơ
sự hoang phế, tĩnh mịch. Mỗi du khách lặng lẽ len lỏi qua từng ô cửa đá, hành cung
thăm thẳm bóng tối với sổ tay hay máy ảnh trong tay – mỗi người đều tưởng như một
nhà khảo cổ, lần mò, đào bới tìm kiếm dấu vết thần thánh lẫn con người quá khứ. Cái
cảm giác khó tìm ở đâu ngoài Angkor kỳ vĩ.
Đỗ Trung Quân
Theo Sài Gòn tiếp thị
Ẩn ngữ nghệ thuật thời tiền sử
Tháng 12/1994, Jean-Marie Chauvet và hai người bạn khám phá hệ hang
động vùng Ardèche nước Pháp. Thật may mắn, họ đã tìm thấy các bức bích họa
sinh động về ngựa, sư tử, bò tót, tê giác cũng như voi ma-mút. Một số hình ảnh
được vẽ, số khác được “chạm” vào vách hang.
Khám phá của Chauvet là một trong những khám phá khảo cổ vĩ đại nhất thế
kỷ XX. Nhưng giống như các khám phá khác, trong khi giải đáp được nhiều vấn
đề, nó cũng đặt ra nhiều câu hỏi mới.
Người nguyên thủy với dấu chân trần hiện rõ trên bùn đã vào hang động từ bao giờ?
Tại sao họ vào sâu trong lòng đất để vẽ tranh? Hành vi bí ẩn đó có phải là nguồn gốc
của cái mà chúng ta gọi là “nghệ thuật” ngày nay hay không? Những hình ảnh đó
liên quan thế nào với vật khắc trên xương, ngà voi và các bức tượng nhỏ tìm thấy ở
các địa danh thời Đồ Đá Mới? Những câu hỏi đó từng được đặt ra trước kia, nhưng
nay thì cần trả lời càng sớm càng tốt.
Niên đại tranh trong hang được Chauvet xác định khá dễ dàng. Kỹ thuật carbon
phóng xạ cho thấy chúng có tuổi 32.410 năm, với sai số 720 năm. Đó là những bức
tranh khá tinh tế lâu đời nhất mà chúng ta từng biết. Chúng xuất hiện gần như đồng
thời với sự có mặt của người hiện đại tại Tây Âu. Chúng đặt ra một câu hỏi hoàn toàn
mới là, “nghệ thuật” có thể xuất hiện hoàn chỉnh ngay từ đầu, chứ không trải qua một
quá trình phát triển từ thấp tới cao? Và tại sao lại vẽ tranh sâu trong lòng đất?
Câu hỏi tại sao vĩ đại?
Năm 1860, khi khám phá các “tác phẩm nghệ thuật” đầu tiên, giới nghiên cứu giả
định rằng, động cơ duy nhất của chúng là thẩm mỹ. Nói cách khác, các bức tranh thời
Đồ Đá Mới chỉ đơn giản là “nghệ thuật vị nghệ thuật” và việc vẽ tranh là thú tiêu
khiển của người tiền sử. Nhưng rất khó hình dung cảnh người nguyên thủy vất vả bò
xuống tận hang sâu chỉ để vẽ các con vật mà họ thấy quanh mình trên mặt đất.
Ngay cả mệnh đề “nghệ thuật vị nghệ thuật” cũng cần được đặt ra đúng nghĩa, vì
nhiều nhà lịch sử nghệ thuật tin rằng, không hề có cái “vị nghệ thuật” đơn thuần như
thế. Việc nghiên cứu vai trò của nghệ thuật trong các xã hội ngoài phương Tây - nhất
là tại phương Đông - cho thấy, nghệ thuật luôn được đặt trong một mạng lưới xã hội
và mang nhiều mục đích.
Lời giải thích cho các con đường hiểm nguy sâu trong lòng đất xuất hiện hầu như
không chậm trễ. Nhà nghiên cứu Pháp Salomon Reinach (1902) cho rằng, “dùng ma
thuật để sai khiến” chính là lý do. Con người vẽ hình để điều khiển những con thú
mà họ vẫn săn. Hành vi đó thường được bao phủ dưới bức màn bí ẩn và phải thực
hiện xa nơi cư trú là điều dễ hiểu. Rồi khi phát hiện các hình vẽ sư tử, nhà tiền sử học
lừng danh Abbé Henri Breuil (1952) cho rằng, con người vẽ vì muốn khỏe như
chúng. Theo Reinach, qua “nghệ thuật”, con người thời Đồ Đá Mới hy vọng săn
được nhiều thú để cuộc đi săn thành công.
Dần dà giới nghiên cứu nhận ra rằng, đó là cách giải thích quá đơn giản. Nó không thể
đúng cho rất nhiều loại hình nghệ thuật và không giải thích được những đặc trưng còn
chưa phát hiện. Chẳng hạn nó không tính đến thực tế là, hình dạng các mỏm đá và
vách hang thường được dùng làm đường viền của hình vẽ.
Vào những năm 60 của thế kỷ trước, Leroi-Gourhan, học trò cũ của Breuil, đưa ra
cách giải thích hoàn toàn mới. Nó dựa trên cấu trúc luận, một quan điểm triết học do
nhà dân tộc học Claude Lévi-Strauss phát triển. Cấu trúc luận cho rằng mọi người đều
tư duy theo xu hướng đối nhau một cách nhị nguyên, vì bộ não được kết nối như vậy
(hai bán cầu não có chức năng bổ sung nhau). Nên tư duy của chúng ta thường đối
nhau kiểu: tự nhiên/văn hóa, nóng/lạnh, sáng/tối, chúng ta/họ, nam/nữ…
Chính nam/nữ là cái mà Leroi-Gourhan muốn lập thuyết. Ông tin rằng trong toàn
bộ 20.000 năm của thời Đồ Đá Mới, các hang động được cấu trúc theo nguyên tắc
nam/nữ. Một số động vật, như ngựa, tượng trưng cho nam tính, còn số khác, như bò
tót, tượng trưng cho nữ tính.
Các loài “nữ” tập trung tại giữa hang, còn các loài “nam” thì tản mát khắp nơi. Hình
sư tử, gấu và các dã thú nguy hiểm khác thì nằm sâu trong hang. Đáng tiếc là bằng
chứng không ủng hộ giả thuyết thú vị này: các hình vẽ phân bố khá ngẫu nhiên trong
hang.
Năm 1972, Marshach giả định rằng, một số “tác phẩm” chạm trên xương hay ngà voi,
với niên đại 32.000 năm, có thể là một loại lịch. Năm 1983, Pfeiffer đưa ra cách giải
thích bổ sung cho quan niệm của Leroi-Gourhan, khi tập trung tới tác động của môi
trường hang sâu lên giác quan và tinh thần con người.
Ngày nay chúng ta thám sát hệ hang động bằng đèn chiếu hiện đại và biết rõ trước
kia nhiều người đã từng ở đó. Pfeiffer cho rằng, với người thời Đồ Đá Mới, tình thế
hoàn toàn khác. Dưới ánh đuốc bập bùng, các hình ảnh động vật dường như cử động
và hít thở. Không thể hiểu động cơ của người nguyên thủy nếu bỏ qua chi tiết quan
trọng đó.
Thế giới các linh hồn
Hiện nay, các nhà nghiên cứu đang tranh cãi về một cách giải thích cũng dựa trên sự
kết nối thần kinh của bộ não, nhưng không liên quan với tính đối ngẫu như trên. Nó
xuất phát từ một thực tế là, hầu hết các xã hội săn bắn - hái lượm trên thế giới đều có
hệ niềm tin chung là vu thuật, cho dù nó có nhiều biến thái khác nhau. Cộng đồng vu
thuật luôn tin rằng, ngoài thế giới mà họ đang sống, còn có thế giới các linh hồn.
Nhiệm vụ của pháp sư là thâm nhập thế giới đó để giao tiếp với các linh hồn,
chữa lành bệnh tật, kiểm soát môi trường động vật và thay đổi thời tiết. Muốn
thế họ phải trải qua “trạng thái ý thức thay đổi”, từ sự phân ly nhẹ tới ảo giác mạnh
hay chiêm bao. Khi đó, họ có thể gặp một linh hồn động vật để nhận được sức mạnh
và sự giúp đỡ của nó.
Theo cách giải thích này, hang động thời Đồ Đá Mới là con đường dẫn tới thế giới
bên kia. Những cố gắng thể lực khi phải bò sâu xuống hang sẽ trợ giúp thêm cho
trạng thái cách ly cảm giác, vì khi đó cơ thể tiết ra các hóa chất tạo thuận cho sự thăng
thiền. Trong vương quốc đó, các pháp sư tìm kiếm linh hồn động vật trong vai kẻ
giúp đỡ và những hình ảnh khác. Bằng cách nhìn và tiếp xúc, cũng như đốt đuốc lên
rồi lại dụi tắt đi, họ xem vách hang chính là tấm màng ngăn cách họ và thế giới các
linh hồn.
Khi tin là đã nắm bắt được một linh hồn động vật, họ liền “kéo” nó qua màng
ngăn và dùng kỹ năng nghệ sĩ để “cố định” cái mà họ “nhìn thấy” lên vách hang. Đó
là lý do tại sao nhiều hình ảnh dường như xuất phát từ hình dạng bề mặt phiến đá, hay
là một phần của phiến đá. Mặt khác, một số hình ảnh lớn và phức tạp đến mức hình
như chúng do một nhóm người tạo nên. Với các phiến đá có sẵn, con người có thể
chuẩn bị cho những hình ảnh sẽ đến với họ phía sâu trong hang.
Vu thuật là hệ niềm tin và tư tưởng năng động mà con người có thể xử lý và thay đổi
tùy theo từng hoàn cảnh xã hội. Một số đặc trưng cơ bản của nó, như niềm tin vào thế
giới bên kia, dường như không thay đổi trong suốt thời Đồ Đá Mới, nhưng các đặc
tính khác thì có thể thay đổi sau mỗi thiên niên kỷ.
Dựa trên các bức tranh trên đá tại Nam Phi, mới đây, David Lewis-Williams và
Thomas Dowson (1988) đề xuất một giả thuyết bất ngờ. Họ cho rằng, chúng thường
được tạo ra trong sự tự thăng thiền. Tâm lý học cho rằng, trong các trạng thái ý
thức thay đổi xuất hiện do thiền, do dùng chất gây ảo giác hay do cách ly cảm giác, bộ
não và con mắt sẽ phối hợp nhau để tạo ra các hình ảnh khác thường. Họ cũng cho
rằng, các hình ảnh như thế không chỉ xuất hiện trong “nghệ thuật“ đá Nam Phi, mà
còn tại Lascaux nước Pháp, cũng như tại nhiều nơi trên thế giới.
Một số câu hỏi quan trọng liên quan với “các bảo tàng nghệ thuật” tại Ardethe và các
hang động khác có thể giải đáp bằng quan niệm vu thuật. Số khác thì chưa. Chẳng
hạn, hình ảnh bò tót có ý nghĩa khác hình ảnh con ngựa như thế nào? Chú ngựa
khắc trên miếng xương mang theo người có khác ngựa vẽ trong hang hay
không? Đơn giản là chúng ta chưa rõ. Chỉ có một điều đã hoàn toàn rõ là, những bức
bích họa trầm mặc đó cho thấy, tại Chauvet và tại nhiều nơi khác, chúng ta đã may
mắn tiếp xúc với thế giới mất đã từ lâu của con người thực sự đầu tiên.
Khi tìm hiểu nội dung, ý nghĩa và động cơ của “nghệ thuật” thời tiền sử, chúng ta cần
tránh cái nhìn đơn cực, như Ucko và Rosenfeld chỉ ra từ 1967. Vì trên tất cả, đó chính
là con người phức tạp, với khả năng tích hợp hoàn hảo các quan niệm vũ trụ, ma thuật
và các mục tiêu chức năng trong cùng một tác phẩm.
Đỗ Kiên Cường
Theo CAND.com.vn
Bãi đá cổ khổng lồ thần bí
Ở Zhili có bãi đá khổng lồ nổi tiếng thế giới đã có trên dưới 5000 năm lịch sử.
Trên bãi đất trũng hình tròn với đường kính 200m, những cột đá to đứng sừng
sững theo trật tự xếp thành 5 vòng tròn, tâm vòng tròn là một tảng đá rất bằng
phẳng.
Người ta đã đưa ra rất nhiều phỏng đoán về bãi đá này. Có người nói, nó là nơi thờ
cúng thiên thần; có người nói nó là đồng hồ Mặt trời; cũng có người nói nó là khu mộ
cổ. Gần đây, có nhà khảo cổ đưa ra giả thiết bãi đá khổng lồ này có thể là một loại
đồng hồ mùa vụ, dùng cột đá để đo vị trí di chuyển của Mặt trời, từ đó tìm hiểu sự
thay đổi biến hóa của bốn mùa. Vị trí Mặt trời mọc trong một năm di chuyển chầm
chậm. Ngày đó, sau khi phát hiện ra hiện tượng này, người đã đã dựng những cột đá
để quan sát Mặt trời. Từ sự thay đổi của bóng nắng giữa các cột đá và phương vị Mặt
trời mọc, họ nhận biết sự thay đổi của mùa vụ. Cách nói này chưa thể khẳng định là
chính xác nhưng cũng có một chút cơ sở khoa học.
Những di tích giống như bia kỷ niệm được làm bằng đá như vậy còn rất nhiều.
Nhưng việc dùng cột đá xếp lại thành những vòng tròn to nhỏ khác nhau thì rất hiếm,
và cho đến nay con người cũng chưa biết người cổ xưa dùng nó vào việc gì? Phần lớn
mọi người đều đoán rằng, nó có quan hệ mật thiết thậm chí thần bí với việc thờ cúng
tôn giáo cổ đại.
Nói đến những bãi đã khổng lồ, còn có nhiều bị ẩn không khỏi khiến người ta suy
nghĩ. Ở khu vực Trung Đông Liban, có một làng nhỏ gọi là Nangabek tên cũ là
Haliplis, l...
Cuốn sách là tập hợp các bài viết được đăng tải ở trang Khoahoc.com.vn về
những vấn đề bí ẩn của thế giới cũng như ở Việt Nam, thu hút được sự chú ý, quan
tâm của các nhà khoa học cũng như những người thích tìm hiểu khám phá....
Source: Khoahoc.com.vn
Created by tinhvan - SachMoi.net
Contact: tinhvan01@gmail.com
Website: www.SachMoi.net
10 nhân vật ma quái đáng sợ nhất
Chúng lẩn khuất, ám ảnh, làm chúng ta kinh hãi. Nhưng những nhân vật kinh dị
nhất dưới đây chắc chắn sẽ không thình lình xuất hiện trước mắt bạn. Chúng đã bị
chôn vùi trong những thị trấn thời trung cổ, khi mà các câu chuyện dân gian kỳ bí ngự
trị trong đầu mỗi người.
Sau đây là lịch sử và khoa học về những ngôi sao kinh dị của ngày 31/10 - Lễ hội
Halloween hằng năm.
1. Yêu tinh
Nổi tiếng từ các câu chuyện cổ tích, những con yêu tinh nhỏ choắt đầy lông lá có
tính ranh ma nhiều hơn là độc ác. Truyền thuyết kể về những con yêu tinh trốn trong
các khu rừng, bày ra các trò chơi khăm và đôi khi tráo đổi em bé mới sinh. Không
giống như các sinh vật khác vốn liên quan đến tôn giáo, yêu tinh chưa vượt qua được
ngưỡng của sự tưởng tượng để gây nên những cơn hoảng loạn thực sự ở các thị trấn
thời trung cổ.
2. Quỷ
Quỷ, như người ta vẫn thường gọi "linh hồn của quỷ", có thể đại diện cho bất kỳ
thứ nào từ tà ma, đến một thiên thần bị suy đồi tới đệ tử của Satan. Ma quỷ có nguồn
gốc từ thời cổ đại và xuất hiện trong các câu chuyện dân gian và văn học trên khắp thế
giới.
3. Tượng đầu thú
Đó cũng là một trong những điều không thể giải thích được của kiến trúc cổ đại.
Nhưng tượng đầu thú, những con quái vật bằng đá nhô ra từ mỏm của các giáo đường
lớn, thực ra có chức năng của nó. Chúng được gắn vào các công trình đá gô-tíc vào
đầu thế kỷ 13 để dẫn nước mưa chảy từ trên nóc nhà thờ, miệng của chúng như cái
máng xả nước. Xét về mặt tâm linh, tượng đầu thú cũng để bảo vệ giáo đoàn trước các
thế lực ma quỷ rình rập bên ngoài.
4. Thây ma
Là vua của phim kinh dị, thây ma là những con người đã bị tước mất linh hồn hay
người chết được sống lại nhờ một phép ma thuật nào đó. Truyền thuyết thây ma bắt
nguồn từ tôn giáo ma thuật ở Haiti, nơi mà người ta tin rằng con người cơ thể rơi vào
trạng thái hôn mê giống như xác chết di động mà chúng ta thấy trong phim.
5. Ma sói
Là những con người bình thường cho đến khi ngày trăng tròn tới, họ bị nguyền rủa
biến thành những con sói man rợ - hình tượng xuất hiện trong mọi nền văn hoá bắt
nguồn từ thời Hy Lạp cổ đại. Giống như phù thuỷ, họ bị săn đuổi vào thời trung cổ và
bị buộc tội trong những vụ giết người không thể giải thích. Những câu chuyện truyền
miệng cũng nói đến một chứng rối loạn hoóc môn khiến lông mọc rậm rạp trên cơ thể
- được gọi là "căn bệnh người sói".
6. Ma trơi
Những quả bí ngô ma quái này có thể là biểu tượng nổi bật nhất của lễ hội
Halloween. Tục lệ khắc và thắp đèn trong những quả bí là một phong tục thời Celtic
được các cư dân Ireland mang tới Mỹ. Ở Ireland, người ta dùng củ cải thay vì bí ngô.
Những khuôn mặt đáng sợ tỏa sáng hiện ra từ những quả bí ngô là để xua đuổi tà ma
lang thang trên các con đường vào đêm 31/10 - đêm các thánh.
7. Dơi
Chúng mù, treo lơ lửng trong các hang động và tạo nên những cuộc tấn công ồ ạt.
Nhưng tại sao dơi lại liên quan tới Halloween? Những con thú có cánh này nên cảm
ơn ma cà rồng vì điều đó. Giống như các con quỷ dracula, một bộ phận nhỏ dơi
chuyên sống nhờ vào máu động vật - dùng răng sắc nhọn để cắn nạn nhân khi đang
ngủ.
8. Phù thuỷ
Hãy quên đi những chiếc mũ đen nhọn hoắt hay cái mũi khoằm. Những hình ảnh
đó chỉ xuất hiện gần đây so với lịch sử bi thương có từ rất lâu về phù thủy trên khắp
hành tinh. Trong quá khứ, phù thuỷ được coi là người sở hữu những phép thuật liên
quan tới thế giới tự nhiên. Giống như mọi kẻ ngoại giáo khác, họ bị truy lùng bởi nhà
thờ Cơ đốc. Cuộc săn lùng lên tới đỉnh điểm vào thời trung cổ ở châu Âu và thế kỷ 17
ở châu Mỹ.
9. Bóng ma
Chọc 2 lỗ thủng từ tấm ga trải giường để nhìn và bạn đã có trang phục đơn giản
nhất cho ngày Halloween. Trở thành một con ma thực thụ thì phức tạp hơn. Trước hết
bạn phải chết, có thể một cách đau đớn, rồi để cho linh hồn của bạn lang thang khắp
trái đất hù doạ người thân và ám ảnh các ngôi nhà. Từ một góc độ khoa học nào đó,
các nhà cận tâm lý cho rằng một phần năng lượng của con người không bao giờ bị
phá huỷ. Xã hội dường như cũng đồng ý, một cuộc khảo sát cho thấy 50% tin rằng
thực sự có ma.
10. Ma cà rồng
Họ muốn hút máu bạn. Ma cà rồng xuất hiện trong nền văn hóa dân gian từ hàng
nghìn năm trước, còn hình ảnh về những chiếc răng nanh phổ biến từ thế kỷ 18-19 tại
Tây Âu. Người ta tin rằng một ai đó khi sinh ra bị dị dạng hoặc chết một cách bất
thường thì sau khi chôn sẽ sống dậy để khủng bố người sống. Ma cà rồng được coi là
những người chưa chết hẳn và cần phải hút máu người để duy trì sự sống.
M.C.R.
Theo Livescience, Vnexpress
3 bí ẩn của địa cầu
Ai cũng biết không gian có thể tác động đến con người. Mặt trời gây nên
nhiều vấn đề nơi một số người nhạy cảm trước những đổi thay thời tiết. Bên
cạnh việc gây nên biến động thủy triều, mặt trăng còn là nguyên nhân của hiện
tượng mộng du (bước đi trong khi ngủ).
Dường như ai cũng nghe nói địa cầu chúng ta có thể là nơi “đổ bộ” của thiên thạch
vào một ngày vô định nào đó trong tương lai? Bản thân trái đất có thể tác động đến
cuộc sống con người như sau:
1. Bức xạ tần số thấp phát ra từ ruột trái đất tác động bất lợi cho nội tạng con người.
2. Nhà cao tầng xây dựng trên vùng dẫn lưu có thể bị rung chuyển và sụp đổ vì lý
do không ai biết.
3. Theo một trong nhiều lý thuyết, khủng long diệt vong do hai cực từ của địa cầu di
chuyển.
Đội ngũ chuyên gia của Viện hàm lâm Khoa học Nga phát hiện sự liên kết kỳ lạ
giữa số vụ tai nạn với rối loạn trường điện từ của trái đất, và bức xạ tần số thấp
trong ruột địa cầu chính là thủ phạm đáng ghét. Một trong nhiều giả thuyết cho
rằng hiện tượng sinh ra do các tiến trình lực căng ứng suất trong lớp vỏ trái đất. Và, có
thể một phần năng lượng này sau đó biến thành luồng phân tử điện từ vỡ tự do, giống
như đám quỷ dữ thoát ra từ chiếc hộp Pandora. Khoa học tin rằng bức xạ bí ẩn tác
động xấu đến sức khỏe con người. Ví dụ, thống kê cho thấy phần lớn những người gọi
xe cứu thương và tai nạn giao thông bột phát khi có một sự gia tăng loại bức xạ này.
Khoa học ghi nhận nhiều lỗ thủng khổng lồ đang xuất hiện trong từ trường trái
đất. Đến một mức độ nào đó thì những lỗ thủng này sẽ gây nên vấn đề. Khoa học cho
rằng lúc đó hai cực từ của trái đất sẽ hoán đổi vị trí, vì hiện tượng này từng xảy ra
trong lịch sử địa chất hành tinh.
Hiện thời, cực từ Bắc đang di chuyển và tiến gần đến Siberia. Cực từ Nam
cũng thế, nó rời Nam Cực và hiện tiến dần đến các vùng bờ biển miền Tây Australia.
Chuyển động của hai cực từ được dò thấy ở Trung tâm Quân sự và Viện Kỹ thuật
Ground Forces. Theo một số dữ liệu, hiện tượng thay đổi vị trí của hai cực từ xảy ra
một lần trong giai đoạn 12.500, và có thể nó đã giết chết loài khủng long, voi
mammouth, và gây nên sự huỷ điệt Atlantis
Di An
Theo LiveScience, CAND.com.vn
Ai Cập - Huyền bí pho tượng nhân sư
Tượng Sphinx nằm ở sa mạc Ai Cập cách thủ đô Cairo khoảng 8 dặm, được
người xưa dùng để canh gác ba kim tự tháp lớn ở Gizah. Đó là một quái vật tạc
bằng đá, đầu người mình sư tử với những chân có vuốt trải ra phía trước.
Hình tượng chạm trổ sơ sài nhưng đầu lại được tạc một cách rất công phu. Đôi mắt
đầy vẻ bí hiểm và có cái nhìn không ai có thể giải thích nổi. Mắt con Sphinx nhìn
chằm chằm ra phía sa mạc với cái vẻ kênh kiệu khó hiểu. Tượng cao hơn 18 mét và
trải dài tới 57 mét, mặt có bề ngang 5 mét, tại 1,57 mét, mũi 1,7mét.
Người ta cho rằng tượng Sphinx đã tồn tại ít nhất 5.000 năm nay! Tại sao lại thiết
kế tượng này? Một bằng chứng mà ta có được xuất phát từ việc tìm thấy một am thờ
nằm giữa những cái chân của quái vật này. Am thờ nhỏ này có bút tích của hai vị
hoàng đế cổ Ai Cập. Hai vị giải thích rằng tượng Sphinx biểu thị một trong những
hình dạng của thần Mặt trời Harmachis. Và hai vị còn nói rằng mục đích làm tượng
Sphinx là để xua đuổi tất cả những điều bạo ác, tội lỗi khỏi khu nghĩa địa quanh kim
tự tháp.
Ở Ai Cập có nhiều tượng Sphinx, ngoài tượng Sphinx lớn ở Gizah. Đầu tượng biểu
thị các vị hoàng đế. Trong các sách thánh của người Ai Cập, Sphinx có nghĩa là “vua
chúa”.
Đối với các tôn giáo nguyên thủy ở Ai Cập cũng như ở các nơi khác, nhà vua được
coi là sức mạnh và sự khôn ngoan của nhiều con thú bằng cách khoác cái lốt của
chúng. Vì vậy người Ai Cập đã chạm các vị thần và các vị hoàng đế của họ nửa người,
nửa thú.
Quan niệm về Sphinx đã từ Ai Cập truyền tới các nền văn minh khác, chẳng hạn
như Assyria và Hy Lạp. Ở các vùng này, Sphinx thường có thêm cánh. Ở Assyria
Sphinx thường là đàn ông, nhưng ở Hy Lạp Sphinx lại có đầu đàn bà.
Người Hy Lạp có một câu chuyện truyền thuyết về Sphinx như sau: Sphinx sống
trên một tảng đá và giết bất cứ người nào đi qua mà không trả lời được câu đố sau
đây: “Cái gì đã đi bằng bốn chân vào buổi sáng, đi bằng hai chân vào buổi trưa, đi
bằng ba chân vào ban đêm?”. Ocdipus trả lời rằng đó là con người, bò bằng cả bốn
chân tay khi là đứa trẻ, đi thẳng người trên hai chân khi là người lớn và đi với cây gậy
khi đã già.
Đó là câu trả lời đúng, do đó con Sphinx điên tiết lên đã lao từ trên tảng đá xuống
và chết. có nguồn khác thì cho rằng: do Sphinx là học trò của nữ thần thông thái ! nữ
thần từng phán rằng, nếu ai giải được câu đó của Sphinx thì Sphinx sẽ phải chết!
Theo VietNet
Ai chế tạo ra đầu người thủy tinh?
Năm 1927, hai cha con nhà khảo cổ học người Anh là Mixin Haiđơ Jidơ và
Anna, tại khu phế tích thành cổ Lôba Antômô nơi gần thành phố Hatơri nước Anh đã
tiến hành khảo sát và tìm thấy một đầu người thủy tinh nặng khoảng 5kg. Đó là một
khố thủy tinh phỏng theo xương đầu người chế tác ra. Xương mũi được lắp ghép bởi
ba mành thủy tinh, hố mắt là một viên thủy tinh tròn, răng được gắn ngay ngắn vào
xương hàm.
Cuốn sách "Nguy hiểm lắm, con đường của tôi" xuất bản năm 1954 đã nhận định
rằng, xương đầu người bằng thủy tinh này do người cổ chế tạo ra cách đây hơn 3.600
năm: Theo giám định của các nhà khảo cổ học, chiếc sọ người thủy tinh này phải
tốn thời gian 150 năm mới được chế tác xong. Sau khi đục khắc xong còn được
dùng cát để đánh bóng. Trước khi được khai quật, nó đã được chôn dưới đất chí
ít cũng đã 3.600 năm.
Một số nhà khảo cổ khác không đồng ý với cách suy luận đó. Họ cho rằng, những
người cổ đại sống cách đây 3.600 năm bị hạn chế bởi điều kiện khoa học kỹ thuật lúc
bấy giờ ở trình độ rất thấp, không thể chế tạo được sọ người thủy tinh tinh xảo đến
thế.
Viện bảo tàng nhân loại học của Pháp cũng lưu giữ một sọ người thủy tinh.
Theo khảo chứng của một số nhà khoa học Pháp: Chiếc sọ người thủy tinh đó qua
giám định khoa học, được xác định là do người Aztech, tức người Anhđiêng - Mexico
chế tạo ra vào thế kỷ 14 hoặc thế kỷ 15. Phân tích từ góc độ lịch sử và tôn giáo, nó có
thể là vật trang sức của mục sư Aztech, của người Anhđiêng cúng tế. Gần quanh nơi
tìm thấy sọ người thủy tinh, người ta cũng tìm thấy rất nhiều công cụ đồ đồng cỡ nhhỏ
nhưng rất tinh xảo. Xem ra, sọ người thủy tinh rất có khả năng do người Aztech dùng
công cụ bằng đồng để chế tạo nên.
Một số học giả tán thành quan điểm trên, họ cho rằng thế kỷ 14 và 15, người
Aztech đã có trình độ phát triển khá cao, họ đã chế tạo được đồ gốm với đặc trưng
màu nâu vân đen, tạo hình mỹ quan, đường vân đa dạng, phức tạp, từ những bản vẽ
hình học phát triển tới việc tả thực hoa lá, chim cá, côn trùng, họ còn biết sử dụng
đồng thiên nhiên để rèn thành công cụ, dùng lông chim cắm vào để tạo ra vật trang
sức. Năm 1978, trong khai quật khảo cổ, Mexico lại phát hiện một tảng đá điêu khắc
nặng khoảng 10 tấn, đường kính 11 thước Anh được gọi là "Đá Mặt Trăng". Đó là
tảng đá được người Aztech chế tác vào năm 1470. Từ những bằng chứng trên, có thể
chứng minh rằng, trình độ khoa học kỹ thuật của người Aztech tinh chắc rằng linh
hồn sống mãi, và họ theo tín ngưỡng đa thần (Thần Mặt Trời, thần Mặt Trăng, Thần
Mưa,...). Khi tế thần họ dùng người sống để làm vật hiến tế. Sọ người thủy tinh này
có thể là một trong những vật phẩm được họ dùng để tiến hành những hoạt
động tế thần.
Nhưng một số học giả tỏ ra hoài nghi, thậm chí phủ định quan điểm trên. Họ cho
rằng, vào thế kỷ 14 và 15, công cụ sản xuất và vũ khí của người Aztech thường vẫn là
đồ đá và đồ gỗ. Lúc bấy giờ họ đang ở giai đoạn liên minh bộ lạc, đang trong thời kỳ
từ xã hội nguyên thủy quá độ tiến lên buổi đầu của chế độ nô lệ, còn thiếu hẳn kỹ
nghệ điêu khắc ở trình dộ cao, rất khó có thể chạm khắc được sọ người thủy tinh sinh
động như vậy.
Viện bảo tàng Anh quốc cũng lưu giữ một sọ người thủy tinh. Trong đêm tối
không có ánh đèn, chiếc sọ vẫn phát ra ánh sáng trắng lóa mắt, hiển hiện một vẻ
khủng khiếp giống hình một ác quỷ nhe răng trợn mắt. Chiếc sọ thủy tinh này được
mua lại tại hiệu châu báu Tiphanni ở NewYork năm 1898. Theo lời người chủ hiệu thì
nó được một người lính bán cho chủ hiệu vào cuối thế kỷ 18. Một số nhà khảo cổ cho
rằng, đó là tác phẩm của người Adôđê (châu Mỹ La-tinh), chế tác từ thời thực dân.
Nhưng đó cũng chỉ là một giả thuyết, chứ chưa phải là kết luận nhất trí của giới khảo
cổ học.
Cho đến nay cả 3 chiếc sọ người thủy tinh trên đều chưa rõ lai lịch, không biết
người nào chế tác ra chúng vào thời gian nào, có mục đích và ý nghĩa gì? Đến nay thế
giới đang chờ các nhà khảo cổ học nghiên cứu tìm ra câu trả lời thỏa đáng.
H.T sưu tầm
Ai dạy người Maya cách tính lịch?
Người Maya sáng tạo được một nền toán học phát triển vượt bậc, để có thể ghi
chép các sự kiện theo năm tháng nhằm quyết định thời gian gieo trồng và thu hoạch,
tính toán một cách chính xác thời tiết và những ngày mưa nhiều nhất trong năm. Kỹ
thuật toán học của họ trong các dân tộc thời cổ đại nguyên thủy khiến các nhà khảo
cổ không khỏi kinh ngạc, nhất là việc họ rất thành thạo khái niệm về số "0". So với
các nhà buôn Ả Rập vượt sa mạc đưa khái niệm số "0" truyền từ Ấn Độ sang châu Âu
thì người Maya sớm hơn 1000 năm.
Người Maya tính ra mỗi tháng có 20 ngày, mỗi năm có 18 tháng cộng thêm
mỗi năm có 5 ngày kiêng kỵ không đưa vào tháng nào. Nhờ vậy số ngày thực
chất trong một năm là 365 ngày. Số đó vừa vặn trùng hợp với nhận thức quay về
thời gian Trái đất tự quay và quay quanh Mặt trời hết một chu trình. Người Maya
ngoài sự hiểu biết về lịch Trái đất chuẩn xác, họ còn rất am hiểu về lịch năm của
sao Kim. Một năm của sao Kim, tức là thời gian để sao Kim quay quanh Mặt trời hết
một chu trình, người Maya tính ra một năm sao Kim dài 584 ngày. Còn ngày nay tính
ra một năm sao Kim dài 583,92 ngày. Đó là một con số chuẩn xác đến kinh ngạc mà
người Maya đã có phương pháp tính lịch từ mấy ngàn năm trước.
Trong thực tiễn xã hội và sản xuất, phần đông các dân tộc căn cứ vào con số ngón
tay để sáng tạo ra phép đếm cơ số 10. Còn người Maya lại căn cứ vào số ngón tay và
ngón chân cộng lại để sáng tạo ra phép đếm cơ số 20. Ngoài ra họ còn sử dụng thêm
cả phép đếm cơ số 18, phép đếm này gợi ý về cái gì? Lấy cái gì làm căn cứ? Người
Maya còn là dân tộc đầu tiên trên thế giới nắm vững khái niệm cơ số "0", nhận thức và
vận dụng số "0" trong toán học đánh dấu trình độ nhận thức của một dân tộc. Về vấn
đề này, người Maya so với người Trung Quốc và người châu Âu đã sớm hơn được
3800 năm và 1000 năm.
Kim tự tháp mà người Maya căn cứ vào lịch pháp của mình để xây dựng
nên, thực chất là một đàn cúng tế thần linh kiêm đài quan trắc thiên văn.
Đài thiên văn ở Chichén Itzá là đài thiên văn số Một do người Maya xây dựng nên
cũng là đài thiên văn cổ nhất. Đỉnh chóp của đài thiên văn này cao trội hẳn lên trên
các ngọn cây trong rừng rậm, bên trong có một cầu thang tròn lên tận đỉnh chóp của
đài quan sát. Trong đỉnh chóp có các cửa sổ để quan trắc các tinh tú. Bên ngoài vách
đá của tháp có trang trí hình khắc thần mưa, còn có cả hình khắc phù điêu hình người
vươn cánh tay bay vào Vũ trụ. Tất cả cái đó làm các nhà khảo hổ học và khoa học có
nhiều suy nghĩ và giả thiết.
Cửa sổ đài thiên văn Chichén Itzá của họ không phải hướng về những vì sao
sáng nhất mà họ hướng về nơi màn đêm trầm lặng bên ngoài dải Ngân Hà. Còn
lịch pháp của họ thì có thể duy trì được đến 400 triệu năm sau, nó được dùng để làm
gì? Ngoài ra họ tiếp thu từ đâu mà tính ra được năm Mặt trời và năm sao Kim với độ
chính xác chỉ sai ở những con số sau dấu phảy?
Rất hiển nhiên, tất cả những kiến thức đó đã vượt ra ngoài nhu cầu thực tế của
người Maya đang sống trong thời kỳ xã hội nông nghiệp và khiến cho các nhà khảo cổ
chưa thể giải thích được.
Đã nằm ngoài nhu cầu của họ thì chứng tỏ những kiến thức đó không phải do
người Maya sáng tạo ra. Vậy ai đã truyền cho người Maya những kiến thức đó? Trong
thời đại mà tất cả mọi dân tộc trên Trái đất đều đang sống trong mông muội, ai đã
nắm được những kiến thức tiên tiến như vậy?
H.T sưu tầm
Angkor, ngôi nhà của thần linh
Xây dựng từ thế kỷ thứ 9 và đạt cực thịnh dưới triều vua Suryavarman II
(1113 - 1150) vào nửa đầu thế kỷ 12. Đột nhiên mất tích trong bóng tối rừng già
Đông Dương hơn 5 thế kỷ, đồng nghĩa với sự lãng quên của con người cho đến
khi được tìm ra bởi những nhà thám hiểm người Pháp vào thế kỷ 19.
Nhưng liệu một nền kiến trúc kỳ vĩ, huy hoàng đến thế có thật bị lãng quên?
Không! Người Khmer của nhiều thế kỷ sau vẫn biết có một kỳ quan di sản của dân
tộc mình được rừng già vĩnh cửu giấu kín. Rừng già và bóng tối nhận lãnh sứ mạng
che giấu chứ không phải Angkor bị mất tích. Đây là một luận điểm của Michael
Freeman, một nhà nghiên cứu người Mỹ.
Angkor giờ đây đã phơi mình giữa ánh sáng của nền văn minh thế kỷ 21. Nó vẫn
im lặng ra câu đố với nhân loại: Đá núi lấy từ đâu? Vận chuyển, xây dựng thế nào
khi chưa có nền công nghệ hiện đại như hôm nay, tại sao nó vẫn sừng sững có
mặt, vĩ đại và bí ẩn hệt như những nụ cười kỳ lạ trên những gương mặt Bayon...
Nhưng trong phạm vi nhỏ hẹp và tầm thường của người viết bài này, Angkor sẽ
chỉ được ghi nhận bằng cảm quan du khách. Cái cảm quan một lần chiêm ngưỡng và
chạm tay vào những phiến đá đã nghìn năm tuổi. Còn thấy những nụ cười, gương mặt
băng qua bóng tối thời gian, nó đủ khơi gợi trí tưởng tượng về sự sống và cái chết, về
khoảnh khắc vĩnh cửu...
Dưới bóng cây thần thánh
Khi được tìm ra sau năm thế kỷ, những cây cổ thụ nghìn tuổi đã toả những chiếc rễ
khổng lồ chụp xuống những mái đền đá tảng từ lâu, sức mạnh mềm mại mà kinh
hoàng của nó chẻ tường đá thành khe nứt, làm xiêu vẹo cả đền đài tưởng chừng thời
gian chỉ có thể bào mòn mà thôi. Những cây cổ thụ, những chiếc rễ kỳ dị ấy đã nổi
tiếng khắp thế giới ngay từ những bức ảnh chụp đầu tiên được công bố. Trong ánh
nắng chiều xiên khoai, những chiếc rễ toả sáng như có hào quang, lấp lánh ánh bạc
kim nhũ – một vẻ đẹp làm kinh ngạc du khách - Những “cổ thụ thần thánh” sáng lên
trong vẻ thâm u hoang tàn của đền đài Ta Phrom ở quần thể Angkor. Một trong những
ấn tượng kỳ bí và hùng vĩ biểu tượng sức mạnh thiên nhiên với mọi du khách khi
chiêm ngưỡng.
Nụ cười trong bóng tối
Khó có thể đếm được bao nhiêu phù điêu chạm khắc hình tượng Apsara ở toàn bộ
Angkor. Nghệ thuật điêu khắc ở đây đã đạt đến đỉnh điểm. Những nụ cười Bayon
cũng đã nổi tiếng khắp thế giới. Những nét mũi, đường môi uốn mềm mại trên đá
tảng. Nụ cười viên mãn hay hoan lạc, bí ẩn, khó hiểu như một thách đố tâm linh của
thần thánh đối với con người. Trong đám rễ cây đã có nghìn năm tuổi, từng chôn vùi,
trói chặt, giam giữ những tượng đá đứng đấy cũng đã nghìn năm, thỉnh thoảng lộ ra
một gương mặt, một nụ cười sống động đến rợn người. Nụ cười ấy thách thức bóng tối
nhiều thế kỷ cho đến ngày lộ ra ánh sáng như hôm nay – trong những bức ảnh hiếm
thấy của nhà nhiếp ảnh Trần Việt Đức – anh vừa tìm ra trong chuyến đi này...
Vẻ đẹp hoang tàn...
Quần thể Angkor đang được Unesco trùng tu. Thiên nhiên, sự quên lãng đã tàn phá
nó khá nặng nề. Nhưng trước những mái đền đã sụp đổ, những đống đá chồng chất
phủ rêu xanh, người chiêm ngưỡng không khỏi ngậm ngùi... Bao nhiêu triều đại huy
hoàng, bao nhiêu bước chân vua chúa, mỹ nữ từng đi qua đây... Nay chỉ còn chơ vơ
sự hoang phế, tĩnh mịch. Mỗi du khách lặng lẽ len lỏi qua từng ô cửa đá, hành cung
thăm thẳm bóng tối với sổ tay hay máy ảnh trong tay – mỗi người đều tưởng như một
nhà khảo cổ, lần mò, đào bới tìm kiếm dấu vết thần thánh lẫn con người quá khứ. Cái
cảm giác khó tìm ở đâu ngoài Angkor kỳ vĩ.
Đỗ Trung Quân
Theo Sài Gòn tiếp thị
Ẩn ngữ nghệ thuật thời tiền sử
Tháng 12/1994, Jean-Marie Chauvet và hai người bạn khám phá hệ hang
động vùng Ardèche nước Pháp. Thật may mắn, họ đã tìm thấy các bức bích họa
sinh động về ngựa, sư tử, bò tót, tê giác cũng như voi ma-mút. Một số hình ảnh
được vẽ, số khác được “chạm” vào vách hang.
Khám phá của Chauvet là một trong những khám phá khảo cổ vĩ đại nhất thế
kỷ XX. Nhưng giống như các khám phá khác, trong khi giải đáp được nhiều vấn
đề, nó cũng đặt ra nhiều câu hỏi mới.
Người nguyên thủy với dấu chân trần hiện rõ trên bùn đã vào hang động từ bao giờ?
Tại sao họ vào sâu trong lòng đất để vẽ tranh? Hành vi bí ẩn đó có phải là nguồn gốc
của cái mà chúng ta gọi là “nghệ thuật” ngày nay hay không? Những hình ảnh đó
liên quan thế nào với vật khắc trên xương, ngà voi và các bức tượng nhỏ tìm thấy ở
các địa danh thời Đồ Đá Mới? Những câu hỏi đó từng được đặt ra trước kia, nhưng
nay thì cần trả lời càng sớm càng tốt.
Niên đại tranh trong hang được Chauvet xác định khá dễ dàng. Kỹ thuật carbon
phóng xạ cho thấy chúng có tuổi 32.410 năm, với sai số 720 năm. Đó là những bức
tranh khá tinh tế lâu đời nhất mà chúng ta từng biết. Chúng xuất hiện gần như đồng
thời với sự có mặt của người hiện đại tại Tây Âu. Chúng đặt ra một câu hỏi hoàn toàn
mới là, “nghệ thuật” có thể xuất hiện hoàn chỉnh ngay từ đầu, chứ không trải qua một
quá trình phát triển từ thấp tới cao? Và tại sao lại vẽ tranh sâu trong lòng đất?
Câu hỏi tại sao vĩ đại?
Năm 1860, khi khám phá các “tác phẩm nghệ thuật” đầu tiên, giới nghiên cứu giả
định rằng, động cơ duy nhất của chúng là thẩm mỹ. Nói cách khác, các bức tranh thời
Đồ Đá Mới chỉ đơn giản là “nghệ thuật vị nghệ thuật” và việc vẽ tranh là thú tiêu
khiển của người tiền sử. Nhưng rất khó hình dung cảnh người nguyên thủy vất vả bò
xuống tận hang sâu chỉ để vẽ các con vật mà họ thấy quanh mình trên mặt đất.
Ngay cả mệnh đề “nghệ thuật vị nghệ thuật” cũng cần được đặt ra đúng nghĩa, vì
nhiều nhà lịch sử nghệ thuật tin rằng, không hề có cái “vị nghệ thuật” đơn thuần như
thế. Việc nghiên cứu vai trò của nghệ thuật trong các xã hội ngoài phương Tây - nhất
là tại phương Đông - cho thấy, nghệ thuật luôn được đặt trong một mạng lưới xã hội
và mang nhiều mục đích.
Lời giải thích cho các con đường hiểm nguy sâu trong lòng đất xuất hiện hầu như
không chậm trễ. Nhà nghiên cứu Pháp Salomon Reinach (1902) cho rằng, “dùng ma
thuật để sai khiến” chính là lý do. Con người vẽ hình để điều khiển những con thú
mà họ vẫn săn. Hành vi đó thường được bao phủ dưới bức màn bí ẩn và phải thực
hiện xa nơi cư trú là điều dễ hiểu. Rồi khi phát hiện các hình vẽ sư tử, nhà tiền sử học
lừng danh Abbé Henri Breuil (1952) cho rằng, con người vẽ vì muốn khỏe như
chúng. Theo Reinach, qua “nghệ thuật”, con người thời Đồ Đá Mới hy vọng săn
được nhiều thú để cuộc đi săn thành công.
Dần dà giới nghiên cứu nhận ra rằng, đó là cách giải thích quá đơn giản. Nó không thể
đúng cho rất nhiều loại hình nghệ thuật và không giải thích được những đặc trưng còn
chưa phát hiện. Chẳng hạn nó không tính đến thực tế là, hình dạng các mỏm đá và
vách hang thường được dùng làm đường viền của hình vẽ.
Vào những năm 60 của thế kỷ trước, Leroi-Gourhan, học trò cũ của Breuil, đưa ra
cách giải thích hoàn toàn mới. Nó dựa trên cấu trúc luận, một quan điểm triết học do
nhà dân tộc học Claude Lévi-Strauss phát triển. Cấu trúc luận cho rằng mọi người đều
tư duy theo xu hướng đối nhau một cách nhị nguyên, vì bộ não được kết nối như vậy
(hai bán cầu não có chức năng bổ sung nhau). Nên tư duy của chúng ta thường đối
nhau kiểu: tự nhiên/văn hóa, nóng/lạnh, sáng/tối, chúng ta/họ, nam/nữ…
Chính nam/nữ là cái mà Leroi-Gourhan muốn lập thuyết. Ông tin rằng trong toàn
bộ 20.000 năm của thời Đồ Đá Mới, các hang động được cấu trúc theo nguyên tắc
nam/nữ. Một số động vật, như ngựa, tượng trưng cho nam tính, còn số khác, như bò
tót, tượng trưng cho nữ tính.
Các loài “nữ” tập trung tại giữa hang, còn các loài “nam” thì tản mát khắp nơi. Hình
sư tử, gấu và các dã thú nguy hiểm khác thì nằm sâu trong hang. Đáng tiếc là bằng
chứng không ủng hộ giả thuyết thú vị này: các hình vẽ phân bố khá ngẫu nhiên trong
hang.
Năm 1972, Marshach giả định rằng, một số “tác phẩm” chạm trên xương hay ngà voi,
với niên đại 32.000 năm, có thể là một loại lịch. Năm 1983, Pfeiffer đưa ra cách giải
thích bổ sung cho quan niệm của Leroi-Gourhan, khi tập trung tới tác động của môi
trường hang sâu lên giác quan và tinh thần con người.
Ngày nay chúng ta thám sát hệ hang động bằng đèn chiếu hiện đại và biết rõ trước
kia nhiều người đã từng ở đó. Pfeiffer cho rằng, với người thời Đồ Đá Mới, tình thế
hoàn toàn khác. Dưới ánh đuốc bập bùng, các hình ảnh động vật dường như cử động
và hít thở. Không thể hiểu động cơ của người nguyên thủy nếu bỏ qua chi tiết quan
trọng đó.
Thế giới các linh hồn
Hiện nay, các nhà nghiên cứu đang tranh cãi về một cách giải thích cũng dựa trên sự
kết nối thần kinh của bộ não, nhưng không liên quan với tính đối ngẫu như trên. Nó
xuất phát từ một thực tế là, hầu hết các xã hội săn bắn - hái lượm trên thế giới đều có
hệ niềm tin chung là vu thuật, cho dù nó có nhiều biến thái khác nhau. Cộng đồng vu
thuật luôn tin rằng, ngoài thế giới mà họ đang sống, còn có thế giới các linh hồn.
Nhiệm vụ của pháp sư là thâm nhập thế giới đó để giao tiếp với các linh hồn,
chữa lành bệnh tật, kiểm soát môi trường động vật và thay đổi thời tiết. Muốn
thế họ phải trải qua “trạng thái ý thức thay đổi”, từ sự phân ly nhẹ tới ảo giác mạnh
hay chiêm bao. Khi đó, họ có thể gặp một linh hồn động vật để nhận được sức mạnh
và sự giúp đỡ của nó.
Theo cách giải thích này, hang động thời Đồ Đá Mới là con đường dẫn tới thế giới
bên kia. Những cố gắng thể lực khi phải bò sâu xuống hang sẽ trợ giúp thêm cho
trạng thái cách ly cảm giác, vì khi đó cơ thể tiết ra các hóa chất tạo thuận cho sự thăng
thiền. Trong vương quốc đó, các pháp sư tìm kiếm linh hồn động vật trong vai kẻ
giúp đỡ và những hình ảnh khác. Bằng cách nhìn và tiếp xúc, cũng như đốt đuốc lên
rồi lại dụi tắt đi, họ xem vách hang chính là tấm màng ngăn cách họ và thế giới các
linh hồn.
Khi tin là đã nắm bắt được một linh hồn động vật, họ liền “kéo” nó qua màng
ngăn và dùng kỹ năng nghệ sĩ để “cố định” cái mà họ “nhìn thấy” lên vách hang. Đó
là lý do tại sao nhiều hình ảnh dường như xuất phát từ hình dạng bề mặt phiến đá, hay
là một phần của phiến đá. Mặt khác, một số hình ảnh lớn và phức tạp đến mức hình
như chúng do một nhóm người tạo nên. Với các phiến đá có sẵn, con người có thể
chuẩn bị cho những hình ảnh sẽ đến với họ phía sâu trong hang.
Vu thuật là hệ niềm tin và tư tưởng năng động mà con người có thể xử lý và thay đổi
tùy theo từng hoàn cảnh xã hội. Một số đặc trưng cơ bản của nó, như niềm tin vào thế
giới bên kia, dường như không thay đổi trong suốt thời Đồ Đá Mới, nhưng các đặc
tính khác thì có thể thay đổi sau mỗi thiên niên kỷ.
Dựa trên các bức tranh trên đá tại Nam Phi, mới đây, David Lewis-Williams và
Thomas Dowson (1988) đề xuất một giả thuyết bất ngờ. Họ cho rằng, chúng thường
được tạo ra trong sự tự thăng thiền. Tâm lý học cho rằng, trong các trạng thái ý
thức thay đổi xuất hiện do thiền, do dùng chất gây ảo giác hay do cách ly cảm giác, bộ
não và con mắt sẽ phối hợp nhau để tạo ra các hình ảnh khác thường. Họ cũng cho
rằng, các hình ảnh như thế không chỉ xuất hiện trong “nghệ thuật“ đá Nam Phi, mà
còn tại Lascaux nước Pháp, cũng như tại nhiều nơi trên thế giới.
Một số câu hỏi quan trọng liên quan với “các bảo tàng nghệ thuật” tại Ardethe và các
hang động khác có thể giải đáp bằng quan niệm vu thuật. Số khác thì chưa. Chẳng
hạn, hình ảnh bò tót có ý nghĩa khác hình ảnh con ngựa như thế nào? Chú ngựa
khắc trên miếng xương mang theo người có khác ngựa vẽ trong hang hay
không? Đơn giản là chúng ta chưa rõ. Chỉ có một điều đã hoàn toàn rõ là, những bức
bích họa trầm mặc đó cho thấy, tại Chauvet và tại nhiều nơi khác, chúng ta đã may
mắn tiếp xúc với thế giới mất đã từ lâu của con người thực sự đầu tiên.
Khi tìm hiểu nội dung, ý nghĩa và động cơ của “nghệ thuật” thời tiền sử, chúng ta cần
tránh cái nhìn đơn cực, như Ucko và Rosenfeld chỉ ra từ 1967. Vì trên tất cả, đó chính
là con người phức tạp, với khả năng tích hợp hoàn hảo các quan niệm vũ trụ, ma thuật
và các mục tiêu chức năng trong cùng một tác phẩm.
Đỗ Kiên Cường
Theo CAND.com.vn
Bãi đá cổ khổng lồ thần bí
Ở Zhili có bãi đá khổng lồ nổi tiếng thế giới đã có trên dưới 5000 năm lịch sử.
Trên bãi đất trũng hình tròn với đường kính 200m, những cột đá to đứng sừng
sững theo trật tự xếp thành 5 vòng tròn, tâm vòng tròn là một tảng đá rất bằng
phẳng.
Người ta đã đưa ra rất nhiều phỏng đoán về bãi đá này. Có người nói, nó là nơi thờ
cúng thiên thần; có người nói nó là đồng hồ Mặt trời; cũng có người nói nó là khu mộ
cổ. Gần đây, có nhà khảo cổ đưa ra giả thiết bãi đá khổng lồ này có thể là một loại
đồng hồ mùa vụ, dùng cột đá để đo vị trí di chuyển của Mặt trời, từ đó tìm hiểu sự
thay đổi biến hóa của bốn mùa. Vị trí Mặt trời mọc trong một năm di chuyển chầm
chậm. Ngày đó, sau khi phát hiện ra hiện tượng này, người đã đã dựng những cột đá
để quan sát Mặt trời. Từ sự thay đổi của bóng nắng giữa các cột đá và phương vị Mặt
trời mọc, họ nhận biết sự thay đổi của mùa vụ. Cách nói này chưa thể khẳng định là
chính xác nhưng cũng có một chút cơ sở khoa học.
Những di tích giống như bia kỷ niệm được làm bằng đá như vậy còn rất nhiều.
Nhưng việc dùng cột đá xếp lại thành những vòng tròn to nhỏ khác nhau thì rất hiếm,
và cho đến nay con người cũng chưa biết người cổ xưa dùng nó vào việc gì? Phần lớn
mọi người đều đoán rằng, nó có quan hệ mật thiết thậm chí thần bí với việc thờ cúng
tôn giáo cổ đại.
Nói đến những bãi đã khổng lồ, còn có nhiều bị ẩn không khỏi khiến người ta suy
nghĩ. Ở khu vực Trung Đông Liban, có một làng nhỏ gọi là Nangabek tên cũ là
Haliplis, l...
 





